Nghiên cứu luật tục, phong tục các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam

  • PDF
  • Print
  • E-mail

Nghiên cứu luật tục, phong tục các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam

Tác giả: Bùi Quang Thanh

Năm xuất bản: 2009.


 

Giới thiệu:

Tonkin của P. Ory[1], … đã đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm và sự vận hành của bộ máy làng - xã của người Việt. Cùng với việc tìm hiểu nghi lễ, trang phục, nhà ở, kỹ thuật canh tác,… các nhà nghiên cứu người Pháp đã quan tâm đến vấn đề hương ước - một dạng luật tục quan trọng của người Việt.

Để phục vụ cho mục đích xâm lược, ngày 30 - 7 - 1923, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Pierre Pasquier đã ra thông tư yêu cầu các sĩ quan quân đội, các trí thức người Pháp ở các địa phương tổ chức thu thập và ghi chép luật tục nhằm khai thác và vận dụng những quy tắc quản lý xã hội truyền thống vào việc cai trị. Nhờ quá trình triển khai thông tư này, một số tác giả người Pháp đã cho ra đời những nghiên cứu về luật tục của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Sau khi cuốn Luật tục Êđê của L.Sabatier ra đời vào năm 1927, người Pháp tiếp tục công bố thêm nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu luật tục khác của người Gia Rai, Xơ Đăng, Mạ, Xtiêng…

Kể từ khi đất nước bị chia cắt cho đến ngày miền Bắc đ­ược giải phóng (1954), việc sưu tầm và nghiên cứu luật tục ở miền Nam hoàn toàn bị gián đoạn mà nguyên nhân chủ yếu là do hoàn cảnh chiến tranh. Ở miền Bắc, các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu các vấn đề thiết chế xã hội truyền thống của một số dân tộc trước 1945, đặc biệt là về thiết chế làng - xã. Một trong những công trình tiêu biểu thời kỳ ấy là Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong[2].

Sau năm 1975, vấn đề luật tục đã được đề cập nhiều hơn. Tuy nhiên, khái niệm này vẫn còn được sử dụng dè dặt. Rất ít công trình nghiên cứu bàn đến vấn đề bảo tồn hay khai thác những khía cạnh tích cực của nó. Một số công trình nghiên cứu như Nông thôn Việt Nam trong lịch sử[3], Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ[4], … được coi là những bước đột phá trong nghiên cứu về vấn đề tổ chức làng xã.

Phải đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX, công việc sư­u tầm nghiên cứu luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số mới thực sự đư­ợc khởi động trở lại. Chương trình điều tra, sư­u tầm và nghiên cứu văn hóa dân gian các dân tộc ở Đắc Lắc do Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian (Nay là Viện Nghiên cứu Văn hoá - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Đắc Lắc thực hiện từ năm 1986 đã thu nhận đ­ược những kết quả đáng khích lệ. Nhiều bộ luật tục ở Tây Nguyên nhờ đó mà đư­ợc sư­u tầm, chọn lọc và công bố.

Năm 1999, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia đã kết hợp với UBND tỉnh Đắc Lắc tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế: Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam dưới sự tài trợ của Quỹ Ford. Hội thảo có đóng góp quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu luật tục ở Việt Nam. Lần đầu tiên, luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số đã đ­ược đặt ra như­ một đối tượng nghiên cứu có hệ thống trên cơ sở quy chiếu bởi lý thuyết và phư­ơng pháp nghiên cứu về luật tục được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Cũng từ hội thảo này, các nhà sư­u tầm, nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề bảo tồn, khai thác và phát huy những khía cạnh tích cực của luật tục cho công cuộc xây dựng và đổi mới kinh tế, xã hội, văn hoá ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; nêu lên vấn đề quản lý xã hội và văn hóa gắn kết với luật tục; đặc biệt là xác định nhu cầu làm rõ hơn mối quan hệ giữa luật tục với luật pháp trong điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội hiện nay.

Hai năm sau sự kiện trên (2001), xuất phát từ nhu­ cầu thực tiễn của tình hình xã hội Tây Nguyên, Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian đã tổ chức tiếp Hội thảo Luật tục - Hương ư­ớc và những vấn đề phát triển kinh tế xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên. Nội dung hội thảo tập trung đi sâu vào việc ứng dụng luật tục - hương ­ước vào công việc quản lý cộng đồng làng buôn của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Từ kết quả hội thảo này, tác giả Ngô Đức Thịnh đã hệ thống lại một số vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu luật tục, biên soạn cuốn sách Tìm hiểu luật tục các tộc ngư­ời ở Việt Nam. Công trình nghiên cứu này là một đóng góp quan trọng cho lĩnh vực nghiên cứu luật tục ở Việt Nam.

Theo quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu nước ta, luật tục là một công cụ quản lý xã hội có nhiều mặt hữu ích đối với đời sống xã hội hiện đại. Nó giúp cộng đồng ổn định và phát triển. Về lịch sử, luật tục ra đời trước khi có luật nhà nước và có một số mặt không đồng nhất, tuy nhiên chúng vẫn có mối quan hệ gắn bó nhất định[5]:

TT

Luật tục

Luật pháp

1

Đem lại lợi ích địa phương, duy trì trật tự cộng đồng

Mang lại lợi ích quốc gia, duy trì trật tự chung

2

Mang tính đặc thù địa phương

Mang tính phổ quát

3

Kiến thức cụ thể địa phương

Kiến thức tổng quát, phổ cập

4

Sự nhất trí cộng đồng

Sự chỉ đạo từ ngoài, áp đặt

5

Gắn với hệ thống văn hoá

Nằm ngoài hệ thống văn hoá

6

Mềm dẻo, uyển chuyển

Nguyên tắc cố định

7

Hướng tới sự thống nhất, đoàn kết

Hướng tới sự công bằng

8

Truyền miệng hay đã văn bản hoá

Bằng văn bản

Căn cứ vào đặc điểm lưu truyền hay trình độ phát triển luật tục ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu đã phân chia luật tục thành 3 nhóm hay giai đoạn phát triển: luật tục dưới dạng các lời nói vần truyền miệng; luật tục thành văn hay đã được văn bản hoá; và luật tục dưới dạng những thực hành xã hội[6].

Trong 3 hình thức, luật tục đã được cố định thành lời nói vần (văn vần) là loại được phổ biến bằng phương thức truyền miệng. Nó xuất hiện chủ yếu trong xã hội các tộc người ở Tây Nguyên: tiêu biểu cho kiểu luật tục này là Phatkdi của người Ê Đê, Phátkđuôi của người Mnông, Tơ lơi djuat hay Tơ lơi phian của người Gia Rai, Adat mu car của người Raglai, Dây tơ ron kdi của người Ba Na, N’dri của người Mạ… Đây là những bộ luật được tập hợp thành dạng văn vần, phản ánh về nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như mối quan hệ cộng đồng, vai trò và trách nhiệm của người thủ lĩnh, hôn nhân và gia đình, sở hữu tài sản, việc xâm phạm tới cá nhân…

Từ những năm 30 của thế kỷ XX đến nay, hầu hết các bộ luật văn vần trên đã được văn bản hoá và công bố bởi các nhà nghiên cứu người Pháp và người Việt Nam. Trong các công trình Recuel des coutumes Rhadées du Darlac (Sưu tầm luật tục của người Ê Đê ở Đắc Lắc) của L. Sabatier[7], Coutumier Stieng (Luật tục Xtiêng) của T. Gerber[8], Coutumier de la tribu Bahnar, des Sedang et des Jrai de la Province de Kontum (Luật tục của bộ lạc Ba Na, Xơ Đăng và Gia Rai ở tỉnh Kon Tum) của P. Guillemi[9], Quelques aspects du coutumier (N’ri) des Cau Mae (Một số khía cạnh về luật tục (N’ri) của người Mạ) của J. Boulbet[10], Tơ lơi djuat: coutumier de la tribu Jrai (Tơ lơi djuat: luật tục của bộ lạc Gia Rai) của P.B. Lafont[11], các tác giả người Pháp đã cho công bố những sưu tầm ghi chép của họ về điều khoản luật tục ở một số nhóm dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Cũng trong các công trình này, các tác giả đã sử dụng khái niệm coutumier để chỉ những điều luật dành riêng cho một số dân tộc thiểu số và cho các toà án địa phương của họ. Ngoài những công trình của người Pháp, còn có những công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam xuất hiện vào thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX như Luật tục Ê Đê (tập quán pháp) của Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu[12], Luật tục M’nông (tập quán pháp) của Ngô Đức Thịnh (chủ biên)[13], Luật tục Gia rai của Phan Đăng Nhật (chủ biên)[14]

Về luật tục thành văn hay đã được văn bản hoá, Ngô Đức Thịnh cho rằng có hai dạng điển hình là hương ước (hay còn gọi là hương lệ, khoán lệ, hương tục…) của người Việt và luật tục của người Thái và Chăm. Hai dạng luật tục này được ghi chép dưới dạng văn xuôi, gồm các điều luật cụ thể mà không phải là lối nói văn vần, cách nói hình tượng như các dân tộc ở Tây Nguyên. Trong luật tục thành văn, các điều khoản được trình bày liệt kê rõ ràng và tập trung vào hai vấn đề chủ yếu là hoạt động của bộ máy “chính trị” và các nghi lễ (tang ma, cưới xin, tế tự…) trong đơn vị xã hội truyền thống (làng, bản, mường…).

Các công trình sưu tầm, nghiên cứu luật tục thành văn đáng chú ý là Lệ làng phép nước của Bùi Xuân Đính[15]; Hương ước Hà Tĩnh của Võ Quang Trọng, Phạm Quỳnh Phương[16]; Hương ước Thanh Hoá của Võ Quang Trọng, Vũ Ngọc Khánh[17]; Hương ước Thái Bình của Nguyễn Thanh[18]; Hương ước Nghệ An của Ninh Viết Giao[19]; Hương ước Quảng Ngãi của Vũ Ngọc Khánh, Lê Hồng Khánh, Tạ Hiền Minh[20]; Về hương ước lệ làng của Lê Đức Tiếp[21], Luật tục Thái của Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng[22], Mẫu hệ Chăm của Nguyễn Khắc Ngữ[23]

Trong 3 hình thức lưu truyền luật tục, luật tục tồn tại dưới dạng thực hành xã hội chiếm số lượng lớn nhất. Nó bao gồm cả những luật tục từng dưới dạng truyền miệng văn vần hay thành văn, nhưng do một hoàn cảnh nào đó nay đã mất. Cho đến nay, việc sưu tầm và nghiên cứu loại luật tục này còn khá hạn chế. Chỉ có một số ít công trình đề cập một cách có hệ thống về luật tục thực hành xã hội ở các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Tiêu biểu trong số đó là cuốn Luật tục của người Tà ôi, Cơtu, Bru - Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Các tác giả Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Hữu Thông[24] đã nghiên cứu một cách khá toàn diện những quy ước luật tục của 3 dân tộc Tà Ôi, Cơ Tu, Bru - Vân Kiều liên quan đến các vấn đề như giải quyết tranh chấp sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên, khai thác và bảo vệ các nguồn tài nguyên, điều chỉnh nhận thức của cá nhân, quan hệ xã hội và hôn nhân gia đình,...

Như vậy là, trên thực tế, trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt nam, giới khoa học trong và ngoài nước gần như mới chỉ đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu luật tục của đồng bào các dân tộc vùng núi phía Bắc (Việt Bắc, Tây Bắc), hương ước các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, luật tục đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Hệ thống luật tục, phong tục tập quán của các dân tộc vùng miền núi Trung và Nam Trung Bộ (trong đó chủ yếu là các dân tộc thuộc miền núi Quảng Nam) dường như mới chỉ được xem xét mang tính khám phá thể hiện qua các tiểu luận, bài báo, chưa mang tính hệ thống, kết quả khoa học thu nhận chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra, nếu không nói đó là khoảng trống vắng cần phải mau chóng bù đắp. Việc tập trung đi sâu nghiên cứu luật tục - phong tục của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi Quảng Nam theo một hệ thống nhất định, vì thế sẽ khả dĩ bước đầu góp phần lấp đi khoảng trống của khoa học và xây dựng những cứ liệu ứng dụng, thiết thực giúp cho các nhà quản lý chính quyền, quản lý văn hóa địa phương có thêm công cụ quan trọng, tổ chức và phát triển các hoạt động kinh tế có hiệu quả, bền vững và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ngày một tốt đẹp hơn.

Miền núi Quảng Nam là nơi cư trú lâu đời của bốn nhóm dân tộc thiểu số Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ Triêng và Co. Theo số liệu thống kê năm 2004, các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam sinh sống ở 70 xã, 381 thôn trên 700 điểm dân cư của 11 huyện và thị xã. Đồng bào có 99.637 người (chiếm khoảng 6,2% dân số toàn tỉnh), trong đó dân tộc Cơ Tu[25] là 41.605 người, Co là 5.110 người, Giẻ Triêng là 20.956 người và Xơ Đăng là 30.323 người[26]. Giống như nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số khác sinh sống trên lãnh thổ nước ta, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam hiện nay vẫn duy trì và sử dụng luật tục truyền thống trong đời sống xã hội.

Các luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Nam là những quy ước mang tính thực hành xã hội, và được coi là hình thức phát triển “đầu tiên” trong số các hình thức luật tục có mặt ở Việt Nam. Đây cũng là đối tượng có tính phức tạp và hiện còn ít được các nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu.

Từ trước đến nay, hầu như chưa có tác giả nào tiến hành khảo sát toàn diện các lĩnh vực luật tục của cộng đồng dân tộc thiểu số ở Quảng Nam.

Vào những tháng năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Quảng Nam là một trong những vùng đất đặc biệt khó tiếp cận. Do nhiều nguyên nhân (giao thông đi lại khó khăn, vùng giao tranh ác liệt…) nên luật tục các dân tộc thiểu số Quảng Nam ít được giới nghiên cứu biết đến. Không phải ngẫu nhiên mà năm 1933, sau khi nhìn nhận lại những chuyến xâm nhập của thực dân Pháp vào địa phận các huyện miền núi Quảng Nam, nhà địa chất học ng­ười Pháp G.H. Hoffet đã phải thú nhận rằng, không thể nào tiếp cận và nghiên cứu các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi Quảng Nam…

Sau ngày đất n­ước thống nhất (1975), các nhà dân tộc học Việt Nam mới có điều kiện b­ước đầu tìm đến với Quảng Nam. Quá trình khảo sát, tìm hiểu các dân tộc thiểu số ban đầu có mục đích phục vụ nhiệm vụ xác định thành phần các dân tộc trong cộng đồng quốc gia Việt Nam. Kết quả này đã cho ra đời tập sách quan trọng về Các dân tộc ít ngư­ời Việt Nam (các tỉnh phía Nam) vào năm 1984. Cũng bắt đầu từ đây, các nhà dân tộc học công bố những bài báo giới thiệu về phong tục tập quán truyền thống của các dân tộc Cơ Tu, Giẻ Triêng, Xơ Đăng, Co. Trên tạp chí Dân tộc học (Viện Dân tộc học - Viện KHXH) đã lần lượt xuất hiện các tiểu luận của các nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Hữu Thấu, Chu Thái Sơn, Lưu Hùng, Phạm Quang Hoan,… mở đư­ờng cho hàng loạt tiểu luận khác sau này về phong tục tập quán, tín ngư­ỡng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam.

Vào những năm cuối của thế kỷ XX, cùng với sự tìm hiểu, nghiên cứu của các nhà khoa học, việc học tập, kế thừa h­ương ư­ớc, luật tục cổ truyền để xây dựng quy ư­ớc buôn làng mới đã trở thành phong trào t­ương đối rộng khắp trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Những năm gần đây, việc nghiên cứu về luật tục của các dân tộc thiểu số Quảng Nam đã có chuyển biến về chất. Vấn đề luật tục, tập quán pháp đã thu hút được sự quan tâm tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu và quản lý địa phương. Bên cạnh các tiểu luận, bài báo đ­ược công bố trên các tạp chí, báo, đài ở Trung ­ương, tại Quảng Nam, ngư­ời đọc còn biết đến luật tục qua các tạp chí Văn hoá Thông tin của Sở Văn hoá Thông tin, Khoa học và Sáng tạo của Sở Khoa học - Công nghệ, một số tờ tin của Sở Tư­ pháp, Ban Dân tộc và Miền núi, tạp chí Đất Quảng của Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam…

Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy, các sưu tầm, nghiên cứu luật tục đã tập trung đến nhiều nội dung như:

- Về bộ máy quản lý xã hội thực thi luật tục truyền thống, quy định sở hữu tài sản, khai thác bảo vệ nguồn tài nguyên, hôn nhân gia đình… có các bài viết Một số nét về luật tục Cơtu ở Quảng Nam của Nguyễn Hữu Thông, Lê Anh Tuấn[27]; Hệ thống lãnh đạo của người Katu ở miền Trung Việt Nam (làng Rô, xã Cady, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, Vài nét về xã hội truyền thống người Pơ Noong Quảng Nam của Huỳnh Đình Quốc Thiện[28]; Văn hoá làng miền núi Trung bộ Việt Nam: giá trị truyền thống và những bước chuyển lịch sử (dẫn liệu từ miền núi Quảng Nam) của Nguyễn Hữu Thông (chủ biên); Luật tục Katu và quan hệ gia đình, Đôi nét về luật tục truyền thống của người Cơtu của Lê Anh Tuấn[29];…

- Liên quan đến vai trò của thế giới quan truyền thống đối với luật tục, quy định luật tục trong nghi lễ vòng đời có các bài Một vài tập tục ảnh hưởng đến sức khoẻ bà mẹ và trẻ em người Ve, Phong tục cưới xin của người Ve tỉnh Quảng Nam của Nguyễn Văn Minh[30]; Về quan hệ hôn nhân và gia đình của người Cơtu, Góp phần tìm hiểu người Ve ở Giằng của Phạm Quang Hoan[31]; Tìm hiểu về tập tục hôn nhân của người Cơtu của Lưu Hùng[32], Tìm hiểu văn hoá Ka tu của Tạ Đức[33]

- Về mối quan hệ giữa quy ước luật tục với quy ước nông thôn hiện đại, sự chuyển đổi vai trò của già làng … có các bài Luật tục trong đời sống văn hoá ở miền núi Quảng Nam của Tôn Thất Hướng[34], Kinh tế, văn hoá các làng miền núi Quảng Nam của Nguyễn Tri Hùng[35]

Có thể nói, các nghiên cứu trên đã giúp chúng ta nhận thức đầy đủ hơn về bức tranh sinh hoạt luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam. Bên cạnh những kết quả đạt được, các tác giả cũng đặt ra cho những nhà nghiên cứu sau này một số vấn đề cần tiếp tục bổ sung và làm rõ như cần điều tra, khảo sát tổng thể thực trạng sử dụng luật tục ở vùng đồng bào 4 dân tộc thiểu số Co, Giẻ Triêng, Xơ Đăng và Cơ Tu ở Quảng Nam; nghiên cứu làm rõ những xu hướng sử dụng luật tục, vai trò của luật tục truyền thống đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá ở vùng các dân tộc thiểu số Quảng Nam; tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân địa phương đối với quy định pháp luật, luật tục; làm rõ mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa luật tục và pháp luật; nghiên cứu luật tục theo hướng ứng dụng nhằm đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và khai thác khía cạnh tích cực của luật tục phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống văn hoá cơ sở….

Trong bối cảnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá được đẩy mạnh như ở vùng miền núi Tây Quảng Nam hiện nay, nhu cầu tìm hiểu và đề xuất những giải pháp cho vấn đề luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng trở nên cấp thiết. Do nhiều nguyên nhân (sự gia tăng dân số mạnh mẽ, nguồn tài nguyên suy thoái, sự xâm nhập của các yếu tố văn hoá có hại từ bên ngoài, văn hoá truyền thống mai một, mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động…), việc quản lý xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay gặp rất nhiều khó khăn. Tại một số địa phương, các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội có nguy cơ bị thụt lùi, thậm chí không bền vững. Có ý kiến cho rằng nên xoá bỏ hoàn toàn những luật tục cũ vì chúng đã trở nên lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội mới. Nhưng cũng có ý kiến ngược lại cho rằng nên bảo lưu luật tục vì chúng là tri thức bản địa của đồng bào, chứa đựng nhiều kinh nghiệm quý báu rất hữu ích cho cuộc sống hiện nay.

Vậy chính quyền và người dân địa phương cần sử dụng những công cụ quản lý nào để phát triển xã hội? Duy trì hay loại bỏ luật tục? Nếu duy trì thì làm thế nào để khai thác những giá trị tốt đẹp của luật tục, để chúng trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở?… Đây là những câu hỏi rất cần các nhà khoa học giải đáp.

Tiến hành thực hiện đề tài Nghiên cứu luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số phục vụ cho đầu tư­ phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao đời sống văn hoá cơ sở, chúng tôi nhận thức được những vấn đề cấp thiết đã và đang đặt ra trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam. Vì vậy, đề tài đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu tổng thể thực trạng, làm sáng tỏ những khía cạnh tích cực của kho tàng tri thức bản địa thể hiện trong luật tục - phong tục, tập quán, tín ngưỡng nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá tại vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam. Bên cạnh những đóng góp về mặt nhận thức, đề tài khuyến nghị một số nhóm giải pháp nhằm góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn trong công tác quản lý xã hội như bảo tồn di sản văn hoá truyền thống, nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật, luật tục - phong tục bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, củng cố tổ chức cộng đồng, xây dựng mối quan hệ tích cực trong hôn nhân và gia đình, khai thác các nét tích cực trong lễ nghi, tôn giáo/tín ngưỡng tộc người, v.v…

Nguồn: Trích “Mở đầu” của tác giả



[1] P. Ory: La commune annamite au Tonkin, Paris, 1899.

1 Nguyễn Hồng Phong, Xã thôn Việt Nam, Nxb. Văn Sử Địa, H, 1957.

2 Viện Sử học: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử , Nxb. Khoa học xã hội, 2 tập: 1977, 1978.

[4] Trần Từ: Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, Nxb. Khoa học xã hội , Hà Nội, 1984.

1 Ngô Đức Thịnh: Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam. Nxb. KHXH, H, 2003, tr . 73.

[6] Xem: Ngô Đức Thịnh: “Luật tục với việc phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam” trong tập hợp Kỷ yếu hội thảo khoa học Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam. Nxb. Chính trị Quốc gia - 2000.

[7] L. Sabatier: Recuel des coutumes Rhadées du Darlac (Sưu tầm luật tục của người Ê Đê ở Đắc Lắc). Tập hợp các văn bản, tài liệu về Đông Dương, IV, HaNoi, 1940.

[8] T. Gerber Coutumier Stieng. B.E.F.E.O, 1950.

[9] P. Guillemi: Coutumier de la tribu Bahnar, des Sedang et des Jrai de la Province de Kontum Selon la Coutume appliquộe dans les tribunnax. Luật tục của bộ lạc Bana, Xơ đăng và Gia rai ở tỉnh Kon Tum. Theo luật tục áp dụng trong các toà án, Paris B.E.F.E.O, 1952.

[10] J. Boulbet: Quelques aspects du coutumier (N’ri) des Cau Mae (Một vài khía cạnh về luật tục (N’ri) của người Mạ), B.S.E.I, Saigon, 1957.

[11] P.B. Lafont: Tơ lơi djuat: coutumier de la tribu Jrai (Tơ lơi djuat: luật tục của bộ lạc Gia Rai). B.E.F.E.O, 1963.

[12] Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu: Luật tục Ê đê (tập quán pháp), Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 1996.

[13] Ngô Đức Thịnh (chủ biên): Luật tục M’nông (tập quán pháp), Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 1998.

[14] Phan Đăng Nhật (chủ biên): Luật tục Gia rai, Sở VHTT Gia Lai - Playku, 1999.

[15] Bùi Xuân Đính: Lệ làng phép nước, Nxb. KHXH, H, 1998.

[16] Võ Quang Trọng, Phạm Quỳnh Phương: Hương ước Hà Tĩnh. Sở VHTT Hà Tĩnh, 1996.

[17] Võ Quang Trọng, Vũ Ngọc Khánh: Hương ước Thanh Hoá, Nxb. KHXH, H, 1998.

[18] Nguyễn Thanh: Hương ước Thái Bình, Nxb. VHDT, H, 2000.

[19] Ninh Viết Giao: Hương ước Nghệ An, Nxb. Chính trị Quốc gia, 1998.

[20] Vũ Ngọc Khánh, Lê Hồng Khánh, Tạ Hiền Minh: Hương ước Quảng Ngãi”, Sở VHTT Quảng Ngãi, 1996.

[21] Lê Đức Tiếp: Về hương ước lệ làng, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 1998.

[22] Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng: Luật tục Thái, Nxb. VHDT, H, 1999.

[23] Nguyễn Khắc Ngữ: Mẫu hệ Chăm, Nxb. Sài Gòn, 1976.

[24] Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên), Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Hữu Thông, Luật tục của người Tà ôi, Cơtu, Bru - Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Nxb. Thuận Hoá, 2000.

[25] Về tộc danh Cơ Tu, hiện nay có nhiều tên gọi khác nhau. Theo một số nhà nghiên cứu và quản lý văn hoá địa phương thì danh từ Ka tu phù hợp hơn Cơ Tu - tộc danh được quy định sử dụng chính thức theo Bảng danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam. Chúng tôi rất tán đồng với ý kiến của các tác giả trên và cho rằng cần thiết phải sửa đổi tên gọi Ka tu cho phù hợp với tâm lý dân tộc - ngôn ngữ của đồng bào. Về quan điểm nghiên cứu này, xin tham khảo: Bùi Quang Thanh - Gươl Catu trong quỹ đạo quy tụ, vận hành và điều chỉnh tâm lý cộng đồng tộc người, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5 - 2007. Tuy nhiên, để đảm bảo tính chính xác về tên gọi, tránh những trường hợp hiểu sai về tên gọi thành phần dân tộc ở Việt Nam nên chúng tôi vẫn sử dụng tộc danh Cơ Tu đúng như các văn bản pháp lý được nhà nước đã ban hành. Chúng tôi cũng tuân thủ theo nguyên tắc trên để xác định các tên gọi của những dân tộc khác sinh sống ở Quảng Nam, trong công trình nghiên cứu.

[26] Tham khảo Nguyễn Hữu Thông (chủ biên): Văn hoá làng miền núi Trung Bộ Việt Nam: giá trị truyền thống và những bước chuyển lịch sử (dẫn liệu từ miền núi Quảng Nam). Nxb. Thuận Hoá, 2005, tr. 66 trích lại từ Số liệu báo cáo của Ban Dân tộc Miền núi tỉnh Quảng Nam năm 2004.

27 Nguyễn Hữu Thông, Lê Anh Tuấn: Một số nét về luật tục Cơtu ở Quảng Nam, tạp chí Văn hoá Quảng Nam, số 29/2001.

[28] Huỳnh Đình Quốc Thiện: Hệ thống lãnh đạo của người Katu ở miền Trung Việt Nam (làng Rô, xã Cady, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học trong lớp Tập huấn nâng cao kỹ năng nghiên cứu cho nghiên cứu viên trẻ ở miền Trung Việt Nam tại Huế-Chiềng Mai từ 10/2003 - 7/2004; Vài nét về xã hội truyền thống người Pơ Noong Quảng Nam, tạp chí Dân tộc học, số 4/2002.

[29] Lê Anh Tuấn: Luật tục Katu và quan hệ gia đình, Thông báo khoa học Viện VHNT số 7/2002; Đôi nét về luật tục truyền thống của người Cơtu, tạp chí Dân tộc học, số 2/2002.

30 Nguyễn Văn Minh: Một vài tập tục ảnh hưởng đến sức khoẻ bà mẹ và trẻ em người Ve, tạp chí Dân tộc học, số 2/1997; Phong tục cưới xin của người Ve tỉnh Quảng Nam, tạp chí Dân tộc học, số 3/1995.

[31] Phạm Quang Hoan: Về quan hệ hôn nhân và gia đình của người Cơtu, tạp chí Dân tộc học, số 4/1979; Góp phần tìm hiểu người Ve ở Giằng, tạp chí Dân tộc học, số 3/1978.

[32] Lưu Hùng: Tìm hiểu về tập tục hôn nhân của người Cơtu, tạp chí Dân tộc học, số 2 - 1995.

[33] Tạ Đức: Tìm hiểu văn hoá Ka tu, Nxb. Thuận Hoá - Huế, 2002.

[34] Tôn Thất Hướng: Luật tục trong đời sống văn hoá ở miền núi Quảng Nam, tạp chí VHNT, số 3 - 2005.

[35] Nguyễn Tri Hùng: Kinh tế, văn hoá các làng miền núi Quảng Nam, tạp chí VHNT, số 3 - 2005.

Вдобавок к урагану и "Энциклопедия реактивной артиллерии" дождю подо мной вновь задрожала "Рождественская мистерия" земля.

Теперь, попав в тепло, она "Мертвое побережье" вся дрожала чувствительность "Бух. дело" начинала возвращаться к рукам "Разноцветные задачи 1 кл Уч. пособие по математике" и ногам.

Стены были обшиты сосновыми "Живи сейчас" планками.

Гар кивнул головой в сторону золотистой "Волчара выходит на след" оленихи.

Дай ему каплю настоя травы, и "Команда. Красная кнопка" ты будешь безмерно поражен, "365 дней очень творческого человека Ежедневник" насколько сильно она действует.

Что-нибудь "Тайны пропавших экспедиций" в этом роде, неуверенно сказал По.

 

Thăm dò ý kiến về: Mô hình tổ chức, quản lý Lễ hội đền Trần Nam Định

Bạn chọn phương án nào?
 

Đang Online

Có 10 khách đang online

Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại TP. Huế

Năm 1999 tại cố đô Huế, một thành phố văn hoá, nhờ sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Bộ và địa phương, thêm một Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật nữa đã được thành lập...

Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại TP. HCM

Năm 1996, Phân Viện Nghiên cứu văn hoá nghệ thuật nay là phân viên Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam đã được thành lập tại TP Hồ Chí Minh trên cơ sở Viện Âm nhạc và Múa ở phía Nam...